National Congress of Vietnamese Americans Logo

 

 

e pluribus unum - one out of many
GoogleTM
Search NCVA   Search www
HOME eREPORTER PROGRAMS RESOURCES EVENTS MEDIA CENTER MEMBERSHIP ABOUT NCVA
Navigation Include

About NCVA
Founded in 1986, the National Congress of Vietnamese Americans is a 501(c)(3) nonprofit community advocacy organization working to advance the cause of Vietnamese Americans in a plural but united America – e pluribus unum – by participating actively and fully as civic minded citizens engaged in the areas of education, culture and civil liberties.


SPONSORS

COMMENTARY

September 19, 2005

Những Ngày Cuối Cùng Của Người Tỵ Nạn?

Manila & Palawan, Philippines

Hoàng Quốc Tuấn


Chắc hẵn nhiều người chúng ta có nghe về 2,000 người Việt còn kẹt tại Phi 16 năm qua; về việc các chính phủ Mỹ, Úc, Canada, và Na Uy đang tiến hành thủ tục định cư họ? Chúng ta cũng biết về Làng Việt Nam, Sơ Pascale, Trịnh Hội, và sự khác biệt của hai nhân vật ấy trong quá trình đấu tranh cho 2,000 đồng bào này?

Để tìm hiểu thêm các vấn đề trên, tôi quyết định viếng thăm Phi. Sau đây là những gì tôi ghi nhận được. Mục đích bài viết này là để chia sẻ kinh nghiệm của tôi và hy vọng giúp chúng ta tìm ra hướng đi cho những ngày sắp tới. Khi viết những dòng này, tôi rất vui vì biết rằng phần đông trong số 2,000 người tỵ nạn sẽ được Mỹ nhận, với chuyến bay định cư đầu tiên sẽ đáp xuống Mỹ ngày 26 tháng 9. Nhưng khoảng 200 người vẫn sẽ còn bị ở lại (bị đá), do đó trang sử tỵ nạn bi hùng của dân tộc vẫn chưa đóng lại được, có lẻ cần chúng ta góp tay mới có thể thật sự khép lại hẵn hoi.

Tôi đến Manila vào buổi trưa thứ Bẩy10 tháng 9. Tôi đón taxi để tới văn phòng Trịnh Hội tại Baclaran, một khu phố nghèo của Manila, cách phi trường khoảng 2km. Chú tài xế lái điên cuồng, chạy lạc vào một khu chợ đầy nghẹt người và xe, mãi gần hai tiếng đồng hồ sau mới tới văn phòng (đi lố hai lần). Nếu bạn muốn thăm văn phòng, tôi nghĩ tốt nhất là chờ người ra đón, hoặc nếu không có nhiều hành lý thì nên đi bộ, chỉ mất 10 phút và đỡ tốn 400 pesos (khoảng 7 đô Mỹ). Bạn cần có cặp mắt diều hâu vì các số nhà ở đây nhỏ tí tẹo, lại nhảy loạn cào cào, cực kỳ khó kiếm.

Văn phòng hôm ấy rất bận rộn. Ngoài Trịnh Hội ra còn có Trang và Thomas từ Úc sang; Quân từ Mỹ; Bi, Hiếu và vài bạn trẻ khác (quên tên) là những người hiện đang tỵ nạn rải rác tại Phi. Tất cả đều làm việc tình nguyện. Khách ra vào văn phòng liên tục. Người thì đến cám ơn và chia vui vì sắp được đi. Người khác thì đến để xin được giúp đỡ. Thành phần xin giúp đỡ có những vấn đề rất hốc búa, và Trịnh Hội là người gỡ rối cho họ. Tôi chỉ ngồi quan sát mà cũng muốn nhức đầu. Chẳng hạn như cuộc đàm thoại sau đây giữa Trịnh Hội (TH) và một khách (K) tỵ nạn người Việt lai Mỹ:

K: Nhờ anh giúp tôi, tôi tức quá. Tôi muốn đi Mỹ.
TH: Tại sao anh tức, và tức ai?
K: Ai cũng được đi, còn tôi không được. Khi nào tôi đi? Tức quá!
TH: Nhưng tức ai? Trả lời anh, Hội thật sự không biết khi nào anh được đi.
K: Người ta không là gì mà cũng được đi, còn tôi con lai mà lại không được. Nói một đàng làm một nẻo. Tức quá [tỏ vẻ giận dữ với Hội]!
TH: Tức ai? Ai là người nói một đàng làm một nẻo?
K: Tức quá!
TH: Tức Hội hả?
K: Tôi muốn biết khi nào đi?
TH: Hội đã nói với anh rồi, Hội thật sự không biết. Nếu anh muốn Hội giúp, anh cần thay đổi thái độ. Mời anh ra ngoài giây lát, chấn tỉnh rồi trở vào đây [khách ra, rồi trở vào].
K: Đói quá. Cho tôi tiền ăn hai ngày.
TH: Tại sao?
K: Hôm nay tôi nghỉ làm. Hai ngày nữa mới có việc làm.
TH: Anh đi vào nhà bếp [phòng bên cạnh] lấy đồ ăn cho hôm nay. Còn tiền này [100 pesos, gần $2] là để mua đồ ăn cho 2 ngày tới.

Tôi hỏi thêm thì Hội nói anh khách này đã bị các nước từ chối vì anh ta bị bệnh tâm thần. Anh ta đã ở Phi 16 năm, có vợ và hai con. Hiện tại anh lượm rác để sống. Tương lai gia đình anh đang chờ vào lòng nhân đạo của một nước nào đó.

Hoàn cảnh gia đình anh bạn lai Mỹ cũng giống 200 đồng bào khác nữa, nghĩa là không có nước nào nhận. Các đàn ông trong số 200 người này lấy vợ Phi, và vì thế nhân viên phỏng vấn của sở di trú Mỹ không giải quyết hồ sơ của họ, nói rằng họ không đủ điều kiện đi Mỹ. Không những thế, vợ và các con của họ cũng không được đi. Thêm nữa, luật pháp Phi không chấp nhận các đàn ông Việt đó là công dân Phi. Thật là nỗi đau vô cùng to lớn cho 200 người này. Họ bị ép tiếp tục làm người tỵ nạn vô tổ quốc, vô hạn định. Điều này là thử thách lớn nhất cho Hội và các anh chị em làm việc tại văn phòng. Riêng cá nhân Hội đã mất hơn 8 năm tranh đấu cho đồng bào tỵ nạn, đến nay cũng đã mệt. Tức nhiên Hội rất muốn tất cả mọi người đều được định cư để Hội trở về với gia đình an cư lập nghiệp. Việc Mỹ đã đồng ý phỏng vấn và nhận đa số 2,000 người tỵ nạn là do công lao không nhỏ của Hội. Tôi còn nhớ mấy năm trước đây, vào những ngày tuyết lạnh giá rét mà anh chàng lặn lội một mình tại thủ đô Washington, gõ cửa các giới chính quyền để họ dòm ngó đến người Việt tỵ nạn, thiếu điều lắm lúc phải van xin. Rất tiếc thay, thành quả đạt được hôm nay tuy rất lớn nhưng chưa trọn vẹn. Liệu Hội tiếp tục tranh đấu hay thôi? Liệu đồng bào hải ngoại có giúp để đạt thành quả trọn vẹn này? Mỹ đã tỏ lòng nhân đạo, liệu Mỹ mở rộng tấm lòng hơn chút nữa? Thiết nghĩ những người tỵ nạn này đã ở Phi 16 năm, vấn đề lập gia đình với người bản xứ cũng không có gì lạ. Chẳng lẻ họ và con cái họ phải lãnh hậu quả tai hại thế này sao?

Chuông điện thoại reo. Hội đàm thoại với một người tỵ nạn khác bên kia đầu giây, một cách gây cấn. Tôi nhớ một đoạn Hội nói thế này: ''Tôi van xin chị nghĩ tới tương lai các con của chị và ký giấy tờ đi chung với ảnh. Sang đó thì đường ai nấy đi, chị không phải sống với ảnh, chẳng muộn màng, chẳng sao cả. Nếu chị không ký, chị và các con của chị sẽ ở đây [Phi] mãi như vầy...''

Hỏi ra thì chị ta đã ly thân với chồng cũ và đang có người yêu mới. Hai vợ chồng ghét nhau không đội trời chung. Hai người trên giấy tờ vẫn còn là vợ chồng vì luật của Phi không cho phép ly dị. Anh ta thì muốn đi Mỹ, nhưng chỉ đi được nếu chị và các con chịu đi cùng. Chị ta thì không muốn đi, một phần để trả thù chồng (nghe nói trước kia anh ta đánh chị), phần khác chị ta đang hạnh phúc với bồ mới.

. . .

Tối hôm đó Hội dẫn cả văn phòng và tôi đến ngôi chùa (thực ra chỉ là một căn nhà mướn, có lập bàn thờ Phật) gần đó để thăm các thầy từ Mỹ và Canada sang, đồng thời ăn tiệc chung vui với gia đình anh chị Sơn vì đã có tên trên danh sách đi Mỹ. Anh chị đãi chúng tôi món bún thịt nướng, còn các thầy thì dùng đồ chay. Thức ăn ngon, không khí tươi vui, chúng tôi kể nhau nghe những câu chuyện của đời sống tỵ nạn và hải ngoại. Tôi lấy làm kinh ngạc khi biết một số người tỵ nạn tại Phi làm ăn tương đối thành công. Tài thật, họ vẫn vươn lên, dù trong tình huống vô cùng khó khăn bất lợi. Phần đông làm nghề buôn bán ở chợ. Hôm sau, tôi gặp một em làm nghề cố vấn computer qua điện thoại cho một hãng tại Phi, mà khách hàng là những người Việt từ trong nước Việt Nam. Rồi có người hỏi tôi làm cách nào để chuyển tiền lén qua Mỹ vì sợ rằng nếu chính phủ Mỹ thấy họ có tiền thì sẽ không cho trợ cấp... Cơm nước xong, các thầy và một số đồng bào trở về văn phòng Trịnh Hội để học hỏi thêm về cuộc sống mới ở Mỹ và Canada. Xong xuôi, mấy anh chị em trong văn phòng kéo nhau ra khu phố Macati uống nước, sẳn tiện làm thêm tô mỳ hoành thánh tại nhà hàng ăn khuya nổi tiếng North Park.

Hôm sau, 11 Tháng 9, có lẻ là một ngày khó quên cho nhiều đồng bào tỵ nạn tại Phi. Lần đầu tiên trong suốt 16 năm qua, đồng bào tổ chức mừng lễ vu lan một cách quy mô. Nói là mừng lễ vu lan, chứ thực ra đây cũng là tiệc ăn mừng tiễn đưa các đồng bào sắp đi định cư. Mấy năm trước kia thì cũng có tổ chức mừng các lễ lớn, nhưng không đông và không khí kém phần vui nhộn hơn nhiều.

Địa điểm lễ vu lan năm nay là một trường tiểu học Phi, cách văn phòng Trịnh Hội khoảng 5 phút đi bộ. Khách tham dự khoảng độ 200 người, phần đông là đồng bào sống ở Manila. Một số đến từ Palawan (2 ngày đường biển, hoặc 1 tiếng đường bay, khoảng 100 Mỹ kim). Từ Canada có các thầy, bác sĩ, và một số mạnh thường quân. Từ Mỹ có thêm 2 thầy khác và đặc biệt có Đức và Mai Phương từ California sang để tiếp tục thực hiện bộ phim Bolinao (nói về con tàu tỵ nạn ăn thiệt người). Chương trình bắt đầu vào lúc 4 giờ chiều và bế mạc khoảng 8 giờ tối. Đáng chú ý nhất đêm hôm đó là việc Trịnh Hội thông báo Sơ Pascale đã đồng ý trích 9 triệu pesos ($160,000) để giúp đồng bào trang trải phí tổn đi phỏng vấn (tiền đi đường và ở trọ tại Manila, nơi phỏng vấn) và cho đồng bào ít tiền tiêu xài trên đường định cư. Trước đó mấy tuần, Sơ Pascale cũng đã trích một số tiền nhỏ hơn cho mục đích tương tự. Tôi không gặp được Sơ Pascale để khẳng định, nhưng tôi hiểu đây là tiền do đồng bào hải ngoạI đóng góp. Tôi cũng không rõ ngân quỹ còn lại bao nhiêu. Cả hai số tiền đều lớn, nhưng điều quan trọng hơn là hành động đẹp của Sơ Pascale. Đối với tôi, Sơ đã chia vui cùng với đồng bào trong ngày trọng thể này, đồng thời cũng thể hiện tinh thần làm việc thật sự vì lợi ích của đồng bào. Sơ Pascale coi như không còn tranh đấu để đồng bào trở thành thường trú nhân vĩnh viễn nữa, một cuộc tranh đấu rất đáng ca ngợi vào giữa thập niên 90, khi đồng bào bị cưỡng bách hồi hương và Làng Việt Nam được hình thành, nhưng sau này cuộc tranh đấu ấy không còn thiết thực nữa trước tình hình biến chuyển mới (Mỹ chịu nhận tỵ nạn), do nổ lực của Trịnh Hội. Tôi sẽ trình bày thêm vấn đề này ở phần sau. Một điểm đặc biệt khác của đêm mừng lễ vu lan này là các em trình diễn. Các em hầu hết sinh ra tại Phi, rất hồn nhiên trẻ đẹp. Các màn trình diễn của các em thật công phu ngoạn mục, chắc chắn mất nhiều ngày để chuẩn bị và tập dợt. Coi các em trình diễn, tôi dám chắc bạn sẽ tự nghĩ thầm như tôi: thật uổng phí nếu tương lai của các em bị chôn vùi tại Phi. Không, nhất định không! Các em xứng đáng được hít hơi thở tự do và phát triễn tài năng của mình tại một môi trường mới.

. . .

Sáng hôm sau, 13 Tháng 9, tôi thăm trại tỵ nạn Palawan và Làng Việt Nam (cách Manila 1 tiếng bay, hướng Nam). Với sự sắp đặt của Hội, tôi được gặp Tài là người đại diện cho đồng bào tỵ nạn tại Phi. Không sắp đặt, tôi gặp Sơ Gloria người Phi, người quản lý Làng Việt Nam (Sơ Pascale hiện đang làm việc tại Việt Nam, chỉ thỉnh thoảng về Phi, nên không gặp được). Tôi cũng trò chuyện và ăn trưa rất lâu với Bình, trước kia là một nhân vật chính trong ban điều hành của Làng (nay ban điều hành đã giải thể). Mục đích của tôi là tìm hiểu thêu về sự khác biệt giữa Trịnh Hội và Sơ Pascale, tại sao cuộc tranh chấp ấy chấm dứt (thanks, God!), và thăm hỏi cuộc sống đồng hương. Để giữ tính chất nguyên thủy, tôi cố gắng tường thuật những cuộc đối thoại theo trí nhớ (vì không thâu âm hoặc ghi chép) thay vì tường thuật theo lối viết tổng quát.

Người đầu tiên là Sơ Gloria, một người rất khả kính, điềm đạm. Tôi gặp Sơ tại văn phòng của Làng. Sau đây là một số mãnh đối thoại chính. Để bạn đọc dễ theo dõi, "định cư'' có nghĩa là định cư tại một nước tây phương, việc Trịnh Hội tranh đấu. ''Thường trú'' có nghĩa là thường trú vĩnh viễn tại Phi, Sơ Pascale chủ trương đường lối này.

Tôi: Sơ Gloria và Sơ Pascale nghĩ như thế nào về việc đa số 2,000 người tỵ nạn [kể cả gần hết 85 người đang sống trong Làng] sắp được định cư tại Mỹ?

: Tôi rất vui mừng. Chính phủ Mỹ giải quyết một vấn đề mà đáng lý họ phải giải quyết từ lâu, vì Mỹ cũng là nguyên nhân của tình trạng ứ đọng này.

Tôi: Vậy tại sao trước đây không lâu, Sơ Pascale tranh đấu quyết liệt để họ trở thành thường trú? Tại sao không ủng hộ Trịnh Hội và tranh đấu cho họ được định cư?

: Vì lúc ấy chúng tôi tin giải pháp thường trú là tốt nhất. Thế giới đã công bố không nhận người tỵ nạn. Trong hoàn cảnh đó, chúng tôi đã vận động xây Làng để đồng bào có chỗ nương thân, kẻo không bị cưỡng bách về Việt Nam. Như anh biết, đã có cưỡng bách, và người tỵ nạn không muốn trở về. Họ rất vui mừng khi được ở lại Phi. Người Việt hải ngoại đã nhiệt liệt hưởng ứng xây Làng.

Tôi: Nhưng rồi sau đó chính phủ Phi cũng không muốn nhận tỵ nạn Việt. Bộ luật cho người tỵ nạn trở thành thường trú bị trì trệ tại quốc hội Phi [đến nay đã hũy bỏ]. Người tỵ nạn bị kẹt cứng, vô tổ quốc, đi không được, ở cũng không được.

: Bỡi thế chúng tôi phải tranh đấu cho bộ luật ấy được thông qua. Anh nói đúng, đáng ra Sơ Pascale và Trịnh Hội nên làm việc với nhau để tìm giải pháp chung. Nhưng anh phải hiểu, chúng tôi rất lo sợ theo đuổi con đường định cư mà không đạt được, vì sẽ mất nhiều thời gian quí báu, không ổn định làm ăn sinh sống được. Nổi lo ngại ấy rất chính đáng.

Tôi: Thưa Sơ, chính cá nhân tôi cũng ủng hộ xây Làng vì đó là giải pháp cấp bách lúc bấy giờ. Và tôi ghi nhận công ơn của Sơ Pascale và giáo hội Phi đã đứng lên bênh vực người tỵ nạn trong những ngày vô cùng khó khăn đó. Nhưng điều không thể phủ nhận là trong thâm tâm người tỵ nạn, họ muốn định cư chứ không muốn thường trú. Làng chỉ là giải pháp cấp bách tạm thời cho một thiểu số, vì bằng chứng là đa số tỵ nạn không ở trong Làng [hiện nay chỉ có 85 người]. Họ cần giáo hội và chính phủ Phi cho phép tạm trú tại Phi thôi, chứ trong đáy lòng, họ vẫn muốn đi định cư. Sơ và Sơ Pascale chẳng lẽ không nhận thấy điều đó?

: Tại sao họ sống một cách vô trách nhiệm như vậy? Chúng tôi rất khó nhọc để tranh đấu cho họ được tạm trú, rồi trở thành thường trú. Rồi họ có giấy tờ tạm trú, làm ăn không đóng thuế, có ngưòi lại phạm pháp. Tôi nghĩ họ có trách nhiệm trở thành công dân và có bổn phận của người công dân.

Tôi: Thưa sơ, sự thật là họ muốn định cư. Nếu họ ủng hộ Sơ Pascale để trở thành thường trú thì chẳng khác nào họ hũy diệt cơ hội định cư?

: Nhưng thường trú xong, họ vẫn có thể định cư cơ mà?

Tôi: Thưa sơ, điều đó không đúng. Chính phủ Mỹ đã nói rõ, nếu là thường trú thì sẽ không được định cư. Chính vì thế họ không muốn trở thành thường trú. Như Sơ đã thấy, hiện giờ có những người có vợ Phi không được Mỹ cứu xét hồ sơ. Xin hỏi Sơ một điều khác, vậy tại sao Sơ Pascale quyết định trao 9 triệu pesos cho họ?

: Vì họ cần số tiền đó để đi phỏng vấn và chuẩn bị định cư.

Tôi: Sơ tính làm gì với cái Làng này sau khi mọi người đã định cư?

: Chúng tôi dự tính biến Làng thành viện bảo tàng tỵ nạn, hy vọng thu hút được khách du lịch.

Tôi: Xin phép Sơ cho tôi đi thăm làng và chụp hình.

: Được [Sơ ký giấy]. Trước kia có một số người qua đây chụp hình rồi về Mỹ xuyên tạc, tổn hại đến chúng tôi.

Tôi: Thế nào?

: Họ chụp những tấm hình xấu nhất trong Làng, rồi lại nói chúng tôi áp đặt giờ giới nghiêm [vẫn còn hữu hiệu], không cho tỵ nạn được tự do. Thực ra giờ giới nghiêm rất cần thiết, tránh tình trạng những người về đêm quấy phá Làng. Nhưng tôi nghĩ anh không làm chuyện xuyên tạc. Anh cứ thoải mái thăm Làng, cần gì thì cho tôi biết.

Tôi cám ơn rồi tạm biệt Sơ Gloria. Bước ra văn phòng, tôi liền gặp một người đàn ông. Anh giới thiệu là Bình, 44 tuổi, hiện là mục sư Tin Lành, có vợ và một con, trước kia anh là phó chủ tịch ban điều hành Làng, rồi chủ tịch. Tôi và anh ta nói chuyện rồi ăn trưa với nhau cả 2 tiếng đồng hồ. Qua anh Bình, tôi hiểu thêm nhiều về cuộc sống tỵ nạn tại Làng và tại Phi. Sau đây là một vài đối thoại điển hình:

Tôi: Anh ở Làng này bao lâu, và tại sao không ra ngoài ở như hầu hết mọi người?

Bình: Từ khi Làng được thành lập [1996]. Tôi ở đây vì tôi không có tài làm ăn buôn bán như người khác. Những người đó cần sống ở thành thị. Còn tôi làm việc trong ban điều hành Làng, tiền lương khiêm nhường nhưng sống đủ.

Tôi: Tại sao trước kia đồng bào muốn thường trú, sau đó lại muốn định cư?

Bình: Thực ra cá nhân tôi không bao giờ muốn thường trú, chẳng qua là bất đắc dỉ mới khai thế thôi. Tôi nghĩ ai cũng thế. Chúng tôi mang ơn Sơ Pascale và giáo hội Phi nên không muốn họ buồn. Nhưng sau này tôi quả quyết lập trường của tôi là định cư. Sơ Pascale là người tốt, nhưng chúng tôi mong muốn định cư chứ không muốn thường trú.

Tôi: Anh ở Phi bao lâu rồi, tại sao bị kẹt?

Bình: 16 năm. Nếu trước kia Mỹ phỏng vấn thanh lọc trực tiếp thì tôi đã đi từ lâu vì diện của tôi tốt, nhiều thành tích chống Cộng. Rất tiếc là họ để cho người Phi phỏng vấn, tham nhũng trắng trợn. Tôi không có tiền để hối lộ.

Tôi: Anh có thể kể cho tôi nghe về sự tranh chấp giữa Hội và Sơ Pascale?

Bình: Cách đây vài năm, Hội muốn xuống Làng để làm việc giúp bà con. Sơ Pascale không có mặt hôm ấy. Tôi và bà con đón tiếp Hội tử tế. Sau đó tôi bị ban điều hành khiển trách. Một vụ khác là hôm đi lên Manila để cùng Hội tường trình quốc hội Phi. Ban điều hành ra thông báo những ai làm việc trong Làng phải hoàn thành trách nhiệm của mình trước, hoặc phải có người thay thế mới được đi. Kết quả là có hai người đi và khi về bị mất việc.

Tôi: Vậy tại sao Sơ Pascale tuyên bố trao cho đồng bào 9 triệu pesos?

Bình: Đồng bào cần tiền để trang trải lộ phí đi phỏng vấn. Anh chủ tịch ban điều hành từ chức, ban điều hành đã giải thể, có lẻ đã tìm ra chân lý? Có thể Sơ Pascale cũng tìm ra chân lý?

Sau bữa ăn trưa với Bình, tôi dạo bộ một vòng quanh Làng. Những con đường mang tên "Tự Do", ''Ấu Cơ'', ''Hồng Bàng'' làm tôi có cảm tưởng đang ở Hà Nội, chỉ khác là không khí Làng vắng vẻ thinh lặng, có lẻ giờ ngủ trưa? Nói chung thì Làng được chăm sóc tươm tất, có người làm cỏ, quét dọn đường xá. Nhưng cũng có nhiều căn nhà bị bỏ hoang tiêu điều. Đằng kia có vài gia đình tụ họp, tôi ghé vào hỏi thăm. Cách đó vài căn, có gia đình đang chặt thịt heo quay, hỏi ra thì họ cúng tạ ơn vì đã có tên trong danh sách đi Mỹ đợt đầu tiên (26 Tháng 9). Tôi thăm anh Phong, người mất trí sống biệt lập... Đến lúc ấy thì Tài đến.

Tài, 35 tuổi, hiện được bầu làm đại diện cho cộng đồng tỵ nạn ở Phi. Như hầu hết mọi người, Tài vượt biển đến Phi 16 năm về trước, tại trại Palawan, cạnh phi trường, cách Làng Việt Nam (nằm hẻo lánh bên trong) khoảng 12km. Ngày nay Tài sống ở phố Palawan. Tài làm việc chặt chẻ với Hội để giúp đồng bào lo thủ tục định cư. Cá nhân Tài cũng đã được Mỹ nhận, chờ ngày lên đường đi San Diego. Là người đại diện, Tài thường hay tiếp đón khách đến thăm.

Chúng tôi tạm biệt Làng Việt Nam để đi thăm trại Palawan. Tài mượn xe một người bạn chở tôi đi. Trại tỵ nạn lịch sử ngày nay phần lớn bị bỏ hoang, cỏ dại mọc đầy. Khu trung tâm cũ thì quân đội Phi đập phá, thay vào đó là các doanh trại lính. Chỉ mỗi đền thờ Đức Mẹ là vẫn còn nguyên. Tài dẫn tôi gặp cái giếng nước còn khắc những dòng chữ Việt. Sau đó chúng tôi ra thăm bãi biển. Ôi, nhìn biển sao thấy buồn quá... Chúng tôi ghé vào một quán nước gần đó. Trời bỗng dưng u ám muốn mưa. Chỗ chúng tôi ngồi ngay cạnh dòng suốt trong vắt, nước chảy thanh thót, đàn cá Koi khổng lồ bơi lại kiếm ăn. Quang cảnh tuyệt đẹp, nhưng buồn sao đâu! Chúng tôi tiếp tục câu chuyện:

Tài: Hồi đó em mà có $300 đút lót là được đi rồi, đâu phải chôn 16 năm như vầy.

Tôi: Tài ghi nhớ những kỷ niệm Palawan, mai này khó có dịp trở lại. Tài tính làm gì khi đến Mỹ?

Tài: Em biết sửa xe, nên trước tiên là kiếm chỗ đi làm sửa xe, nhưng em cũng sẽ học thêm. Em nghe nói họ sẽ cho trợ cấp vài tháng, nhưng em cố gắng đi làm tự sống...

[Posted 9/19/05]

Footer Include

© 1986-2006  National Congress of Vietnamese Americans. All rights reserved.
About NCVA   |   Programs   |   Donate   |   Mailing List   |   Privacy Policy   | Webmaster